Tác dụng của bạc

Tổng hợp Google 2013-04-03 709 lượt xem

Tác dụng của bạc


Bạc và ion bạc cũng giống như chì và thủy ngân có độc tính đối với một số loại vi khuẩn, virus, nấm, nhưng bạc không có độc tính cao đối với người. Thử nghiệm trong ống nghiệm cho thấy bạc giết chết nhiều loại vi sinh vật.
Sử dụng bạc để ngăn ngừa nhiễm khuẩn đã biết từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại. Hippocrates, ông tổ của ngành y học hiện đại, đã viết rằng bạc có tính chất ngăn ngừa và chống lại một số loại bệnh, và người Phoenician cổ xưa đã biết dùng những bình bạc để chứa nước, rượu và dấm nhằm bảo quản chúng lâu hỏng. Thời trung cổ, bạc đã được dùng để khử trùng nước và thức ăn lưu trữ, điều trị phỏng va vết thương.

Đầu những năm 1900, mọi người thường bỏ đồng tiền bạc vào trong bình sữa để giữ cho sữa tươi lâu (có lẽ lúc đó tủ lạnh chưa được phổ biến). Thủy thủ tàu viễn dương và những người tiên phong Mỹ Châu cũng hay bỏ tiền bạc vào thùng nước và rượu để bảo quản thức uống. Năm 1920, dung dịch muối bạc được FDA (Food and Drug Administration của Hoa Kỳ) chấp thuận cho sử dụng làm chất kháng khuẩn. Ngày nay, nhiều loại gạc chứa bạc được thương mại hóa và sử dụng rộng rãi để điều trị vết thương trong bệnh viện. Tính kháng khuẩn của bạc làm tăng giá trị của những vật dụng và trang sức làm bằng kim loại này.

Cơ chế sát khuẩn
Mặc dù có nhiều giả thuyết khác nhau nhưng cơ chế chính xác vè tính sát khuẩn của bạc vẫn chưa được hiểu rõ. Một trong sồ đó là thuyết “oligodynamic effect” (phát hiện năm 1893 bởi Swiss KW Nägeli). Thuyết này cho rằng tính kháng khuẩn của bạc bắt nguồn từ hóa tính của của ion bạc Ag+ (muối bac) hoặc bạc bị oxid hóa thành Ag+. Ion Ag+ tạo liên kết mạnh với những hợp chất (gọi nôm na là thức ăn của vi khuẩn) mà vi khuẩn dùng để thực hiện sự chuyển hóa tạo năng lượng cho chúng. Những hợp chất này thường có chứa lưu huỳnh, nitrogen và oxygen. Khi vi khuẩn liên kết với phức bạc-thức ăn của nó chúng không thực hiện được chuyển hóa năng lượng cần thiết, chúng trở nên mất hoạt tính và dần dần sẽ chết. Những vi khuẩn thuộc Gram âm và dương đều bị ảnh hưởng bởi thuyết này. Tuy nhiên vi khuẩn cũng dần dần có khả năng kháng lại bạc.

Bạc làm mất hoạt tính của enzyme bằng cách phản ứng với nhóm thiol SH tạo thành bạc sulfide. Bạc cũng phản ứng với các nhóm amino-, carboxyl-, phosphate-, và imidazole của enzyme và làm suy giảm hoạt tính của enzyme lactate dehydrogenase và glutathione peroxidase. Virus không nhạy đối với bạc nhưng sau nhiều giờ chúng cũng bị ảnh hưởng.

Tính sát khuẩn của bạc và ion bạc được dùng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.

Dược phẩm:
Bạc đã được sử dụng khá thành công trong chiến tranh thế giới thứ nhất để ngăn ngừa sự truyền nhiễm trước khi có kháng sinh. Dung dịch bạc nitrat được dùng như dung dịch chuẩn để bôi những vết bỏng nặng và sau này được thay thế bằng kem silver sulfadiazine (SSD Cream) mãi đến những năm cuối thập kỷ 90. Hiện nay, gạc phủ bạc hoạt hóa (silver-coated dressing) (activated silver dressings), được dùng kèm với kem SSD và chúng có tác dụng giảm đau và thuận lợi trong việc điều trị tại gia.

Việc phổ biến sử dụng bạc trong điều trị đã giảm hẳn vì sự phát triển của nhiều loại thuốc kháng sinh hiện đại. Tuy nhiên gần đây, bạc lại được tái quan tâm vì có phổ sát khuẩn rộng. Đặc biệt, khi nó được sử dụng chung với alginate, một loại polymer sinh học tự nhiên chiết xuất từ rong biển. Một số sản phẩm bạc alginate được điều chế nhằm ngăn ngừa việc nhiễm khuẩn trong quá trình điều trị vết thương, đặc biết là đối với bệnh nhân phỏng. Các bạn đọc thành phần các loại kem bôi điều trị phỏng lúc nào cũng có ion bạc ở trong đó.

Rất nhiều loại dung dịch hay dạng keo có chứa bạc được thương mại hóa để điều trị nhiều loại bệnh khác nhau. Mặc dù hầu như chúng vô hại,nhưng một số người tự bào chế dung dịch thuốc ở nhà và dùng chúng quá nhiều trong thời gian dài thì họ bị hội chứng argyria (da chuyển thành màu xanh hoặc xám xanh), có một trường hợp bị coma (bán thân bất toại) do uống nhiều thuốc chứa bạc. Một số loại muối bạc bị nghi ngờ gây ung thư. Nên cho bác sĩ biết nếu bạn đang tự điều trị bằng thuốc có chứa bạc.
Bạc được sử dụng rộng rãi trong các loại cao xoa và băng dán vết thương vì chúng có hoạt tính kháng khuẩn phổ rộng. Những thiết bị y khoa có chứa bạc phải được bác sĩ kê toa.

Vật dụng, trang thiết bị
Năm 2007, công ty AGC Flat Glass Europe giới thiệu loại thủy tinh sát khuẩn đầu tiên để đối phó vấn nạn nhiễm khuẩn trong bệnh viện. Loại thủy tinh này được phủ một lớp bạc mỏng. Hơn nữa, Samsung đưa ra loại máy giặt có lần xả cuối cùng chứa ion bạc để có thể giúp áo quần kháng khuẩn trong nhiều ngày. Kohler đã giới thiệu một dòng sản phẩm bồn cầu có phủ ion bạc để diệt khuẩn. Công ty Thomson Research Associates cũng xử lý sản phẩm bằng Ultra Fresh, một kỹ thuật xủ lý bằng nano để tạo ra những hạt bạc siêu nhỏ cho việc thuận tiện sử dụng và bền lâu. FDA (Food and Drug Administration của Hoa Kỳ) gần đây đã chấp thuận cho sử dụng ống thở (của máy trợ hơi) phủ một lớp bạc mịn vì sau nhiều nghiên cứu, loại ống thở phủ bạc này giúp giảm sự viêm phổi khi dùng máy trợ thở.

Thực phẩm
Ở Ấn Độ, thức ăn, nhất là đồ ngọt, thường được trang trí bằng một lớp bạc mỏng gọi là “vark”. Bạc được xem như là một chất phụ gia thực phẩm thuộc nhóm trang trí thực phẩm với mã số E174. Nó đơn thuần chỉ dùng để trang trí, chẳng hạn như trên chocolcate, mứt, kẹo. Tuy nhiên ở Úc, bạc bị cấm sử dụng như là một chất phụ gia thực phẩm.

Áo quần
Bạc hạn chế sự phát triển của vi khuẩn và nấm mốc, giảm mùi hôi và giảm thiểu rủi ro nhiễm khuẩn và nấm. Áo quần, nhất là tất vớ có sử dụng bạc giúp chúng có thể sử dụng nhiều ngày hơn mà ít bị bốc mùi. Ôi sao mà thuận tiện thế nhỉ! Bạc được đưa vào áo quần dưới hai dạng: một ion bạc được tích hợp vào polymer dùng để tạo sợi vải, hai là phủ bạc kim lọai lên sợi vải. Cả hai dạng đều cho khả năng sát khuẩn và nấm mốc rộng. Điều đáng lưu ý là tính sát khuẩn của bạc rất thân thiện đối với da người và diệt khuẩn mạnh không như thuốc kháng sinh đôi khi có sự sốc thuốc và bị lờn thuốc sau một thời gian sử dụng.
Tổng hợp Google 

1 Review - Đánh giá

Chọn đánh giá của bạn
Mã xác nhận
    Tư vấn